35
2
2283 chữ

Cỡ chữ

Màu nền

# 5 - Tuổi thơ không phẳng lặng


Tình hình xin việc làm thêm của Dương Nguyệt chả khả quan chút nào.


Một con bé học lớp Tám yếu ớt, trình độ thì chưa đủ thì ai muốn thuê, ngay cả chấp nhận mức lương thấp hơn nhiều so với mọi người mà người ta cũng không chịu tuyển. 


Nghĩ cũng đúng thôi, bị phát hiện ra sử dụng lao động dưới tuổi vị thành niên có thể bị kiện đi tù như chơi, hiếm ai dám liều mà làm sai luật lắm.


Giá mà Dương Nguyệt có thể to lớn như người ta thì cũng có thể cố gắng lừa mình dối người, nhắm mắt làm ngơ. Đằng này cô bé vừa gầy vừa thấp, người ta còn chả nghĩ là học sinh cấp Hai nữa ấy chứ mà còn mong được nhận.


Dương Nguyệt vừa buồn vừa lo, mẹ cằn nhằn bên tai từ sáng tới chiều thì không sao, chứ dượng mà không vừa ý là kiểu gì cũng bị đánh. Cô bé nhớ tới những đòn roi của dượng từ nhỏ tới lớn mà không khỏi rùng mình.


Kí ức của Dương Nguyệt ùa về những năm tháng xa xăm...


*  *  *


Dương Nguyệt không biết tại sao mình không có một chút kí ức nào về quãng thời gian trước năm cô bé được năm tuổi. Có thể là do cô bé chưa đủ khôn, nghe nói nhiều đứa trẻ thông minh có kí ức tuổi thơ từ rất sớm.


Năm đó cả nhà rồng rắn kéo nhau từ quê ra thành phố lập nghiệp. Khi đó mẹ đang mang thai em Bình, cũng đã gần tới ngày sinh. Dượng bán căn nhà ở quê, mua được căn nhà cũ tại xóm bờ mương này với giá tương đối rẻ của một chủ nhà bị vỡ nợ. Mẹ và dượng đều háo hức mong chờ cuộc sống mới.


Nhưng cuộc sống vốn không phải màu hồng, không phải cứ ai bỏ quê ra thành phố cũng đều lập nghiệp thành công cả. Dượng và mẹ đều là những người sinh ra trong gia đình thuần nông, gia cảnh khó khăn cộng với nhận thức về giá trị của học vấn thấp nên chưa học hết cấp Hai đã đều bỏ học. Cả hai đều quan niệm biết đủ cái chữ để đọc để viết là được rồi. Thế nhưng làm nông còn đỡ, ra thành phố kiếm việc lại càng khó hơn, chỉ xin vào làm được những chỗ tuyển lao động chân tay với mức thu nhập thấp như bèo.


Nghe nói trên mẹ còn một chị gái nhưng đã qua đời, người thân của mẹ chả còn ai. Còn dượng Công thì có một ông anh trai cũng đã đi lấy vợ, hai anh em cũng chả hoà thuận lắm, sau khi ông bà mất thì từ hẳn mặt nhau. Dượng tuyên bố với anh trai là sẽ quyết tâm ra thành phố làm ăn, sau này thành công trở về sẽ cười vào mặt hắn, cái đồ làm anh gì mà toàn khinh thường em. Ấy vậy mà bao năm nay dượng vẫn chả làm được, đến lúc khó khăn càng chả dám muối mặt quay về.


Dượng vốn là người hiền lành, nhưng lại hay nóng nảy, tính tự ái cao. Ông chủ nói khó một câu là dượng sẵn sàng chửi lại, thậm chí còn cả đánh nhau, rồi đùng đùng bỏ việc ngay. Cứ thế cứ thế lại bị người ta dìm, chẳng ngóc đầu lên nổi.


Buồn đời, dượng đi uống rượu. Uống rượu say, dượng lại chửi cuộc đời!


Ban đầu mẹ còn nhẹ nhàng khuyên nhủ dượng, sau chán chả buồn nói, lại học luôn thói chửi đổng của dượng tự lúc nào. Lúc tỉnh thì dượng bảo mẹ "đàn bà biết gì mà nói", lúc say thì dượng chửi mẹ "đồ đàn bà vô dụng" rồi thượng cẳng chân hạ cẳng tay ngay lên người mẹ.


Chán đời rồi thì nhìn cái gì cũng chướng mắt, đánh vợ rồi chuyển sang đánh con. Em Bình còn nhỏ thi thoảng chỉ bị phát mông vài cái, Dương Nguyệt lớn thì bị đánh bằng roi, không có roi thì vớ được cái gì phang cái nấy.


Ban đầu Dương Nguyệt tưởng do mình làm sai sẽ bị đánh, nên cố gắng thật ngoan, mẹ và dượng nói gì thì làm nấy, dần dà cô bé học được cách đoán ý mà làm. Nhưng về sau thì hình như không phải. Vấn đề không phải Dương Nguyệt làm sai hay đúng, mà vấn đề là dượng buồn hay vui.


Dượng vui thì dượng cho mấy đồng đi mua bánh, Dương Nguyệt cất đi để dành. Khi dượng bực mình thì dượng đánh, lý do đánh thì có rất nhiều: bới móc lỗi sai; không bới được lỗi sai thì nghe tiếng nó khóc cũng khó chịu; nó không khóc nữa mà lại chuyển sang cười thì đánh vì trẻ con dám cười người lớn; nó không dám cười thì đánh vì nhìn cái mặt vô cảm trông thật khó ưa. Tóm lại là làm kiểu gì cũng thấy chướng tai gai mắt.


Dương Nguyệt từng cảm thấy rất tủi thân và ấm ức. Ngày bé cũng không hiểu tại sao các bạn gọi bố là "bố" còn mình lại gọi bố là "dượng", có thể do từ quê lên nên cách gọi khác người thành phố. Nhưng sau một lần rượu say, dượng chửi Dương Nguyệt là "đồ con hoang, cái thằng khốn nạn nào đẻ ra mày để tao phải gánh" thì Dương Nguyệt mới biết "à thì ra tại sao mình lại bị ghét đến thế". Bảo sao lúc nào người bị đánh cũng là Dương Nguyệt, còn em Bình thì chỉ là sẩy tay, sau đó thì dượng lại vội vã chạy ngay đi mua thuốc về thoa cho em mau khỏi. Dẫu sao thì em Bình mới là máu mủ, còn Dương Nguyệt chỉ là đứa trẻ khác máu tanh lòng.


Dương Nguyệt đã từng khóc, khóc rất nhiều, nhưng lại không dám khóc trước mặt dượng. Cũng chả dám khóc trước mặt mẹ, và sau này chả dám khóc trước mặt ai. Vì mẹ cũng chả thể bảo vệ được Dương Nguyệt, nên cô bé chỉ có thể tự bảo vệ bằng cách thu vào vỏ ốc của chính mình.


Có một lần, Dương Nguyệt không chỉ bị đánh mà còn bị đẩy ra khỏi cổng. Nhìn từng cánh cửa bị sập lại, một mình ngồi sụp ở bên ngoài, trời đổ mưa như trút, Dương Nguyệt ôm mặt khóc nức nở.


May quá, tiếng mưa át tiếng khóc. Dương Nguyệt có thể khóc thật đã, khóc thật to, nhưng nỗi đau trong lòng vẫn chả vơi đi chút nào.


Trước cổng nhà không có chỗ trú, mấy căn nhà xung quanh cũng không có chỗ ghé chân. Trời mưa lạnh lẽo, bóng tối bao trùm khiến cô bé con run rẩy.


Dương Nguyệt sợ! Rất sợ!


Lần từng bước trong bóng tối, thấp thoáng thấy có ánh đèn hắt ra từ căn nhà nơi đầu ngõ nhỏ, một căn nhà có mái hiên che.


Dương Nguyệt đi về phía đó, ngồi sụp xuống thềm nhà, nhìn những hạt mưa như một chiếc mành trong suốt chảy xuống từ rìa hiên mỏng.


Cô bé vẫn khóc, nhưng tiếng nức nở đã nhỏ hơn. Cô bé lạnh, lạnh thấu tận trong lòng.


Bỗng nghe thấy tiếng bước chân chầm chậm, tiếng lạch cạch rồi cánh cửa khẽ mở, ánh sáng cũng theo đó hắt ra ngoài soi bóng cô bé in trên nền mưa kì ảo.


Có một bà khoác chiếc áo len mỏng bước ra:


"Cháu là ai? Sao lại ngồi trước cửa nhà bà? Vào nhà đi kẻo lạnh!"


Chẳng đợi Dương Nguyệt trả lời thì bà đã đỡ cô bé dậy và dẫn vào trong, đóng cửa lại ngăn tiếng mưa còn vọng bên ngoài nho nhỏ.


Bà bảo Dương Nguyệt ngồi xuống ghế, rót cho cô bé một cốc trà gừng ấm và kiếm một bộ quần áo cho cô bé thay.


"Quần áo bà già, hy vọng cháu không chê."


Dương Nguyên giơ hai tay cẩn thận đón lấy:


"Cháu cảm ơn bà."


Thay quần áo khô, lau tóc ướt, khoác thêm cái khăn choàng rộng bà đưa, Dương Nguyệt trên ghế nhấp từng ngụm trà gừng. Tâm tình ổn định hơn nhiều, nước mắt cũng ngừng rơi tự lúc nào không biết.


Dưới ánh đèn ấm áp Dương Nguyệt mới có cơ hội nhìn kĩ gương mặt bà cụ được đồn đại trong truyền thuyết kia.


Người trong xóm đồn rằng trong căn nhà đầu ngõ có bà cụ già cực kì khó tính, chả thích giao du với ai, suốt ngày đóng chặt cửa phòng chả mấy khi ra ngoài. Đặc biệt là bà rất ghét đàn ông, cùng lắm chỉ nói chuyện dăm ba câu với vài người phụ nữ, nhưng không phải người phụ nữ nào cũng được bà mở mồm nói chuyện. Có điều tuy bà ít nói, nhưng mỗi câu đều sắc bén khiến người khác nghẹn họng, và không hiểu sao lời nói của bà lại uy quyền đến mức ông trưởng khu còn sợ. Mà ông ấy đã sợ thì tất cả những người khác sống trong khu này đều phải sợ theo. Rồi từ đó lại thêm mắm dặm muối thêu dệt thêm những câu chuyện của bà mà người ta cứ chuyền tai nhau chứ chả ai được kiểm chứng.


Bà là bà Liễu. Có người gọi bà là cụ Liễu.


Dương Nguyệt cứ nghĩ phải là cụ già lọm khọm lom khom cơ, nhưng hình như bà Liễu còn trẻ hơn cô bé tưởng. Chắc bà chỉ độ ngoài sáu mươi, hoặc có thể hơn, nhưng nhìn thì chỉ có thể ước chừng như vậy. Tuy gương mặt bà có nhiều nếp nhăn, đôi má rám đồi mồi nhưng có thể nhận ra bà đã từng là một phụ nữ đẹp, rất đẹp là đằng khác. Một vẻ đẹp khiến cho người ta có thể kiêu ngạo, tạo nên một phần tính cách của bà.


Bà mặc một chiếc áo hai tà màu tím nhạt có dệt hoa văn chìm, bên ngoài khoác áo len mỏng màu tím đậm, kết hợp chiếc quần phi lụa màu đen, tóc dài vấn cao nhưng không chít khăn mỏ quạ. Nhìn chất liệu vải có vẻ không phải là hàng chợ rẻ tiền. Không hiểu tại sao người như bà lại sống đơn độc một mình trong căn nhà hiu quạnh này.


Tuy người ta nói bà lạnh lùng, nhưng Dương Nguyệt lại cảm nhận được trong lòng dấy lên sự ấm áp. Bà không giống như những gì người ta đồn đại.


"Cháu là ai? Sao khuya rồi còn lang thang ngoài đường?" Đến bây giờ bà mới quay trở lại câu hỏi của mình.


Dương Nguyệt ngước mắt trả lời, trong đáy mắt còn vương vài giọt long lanh.


"Cháu là Dương Nguyệt, sống trong căn nhà cuối ngõ. Cháu... cháu... bị dượng đánh và không cho vào nhà. Liệu cháu có thể ngủ nhờ ở nhà bà một đêm không ạ?"


Bà Liễu nhìn một lượt qua những vết roi trên cổ, trên tay Dương Nguyệt, có lẽ bên trong người hãy còn, chẳng qua bị quần áo che đi, đôi vết còn rướm máu nữa.


Bà đi lấy hộp dụng cụ y tế, nhẹ nhàng khử trùng vết thương và bôi thuốc cho cô bé. Thì ra trước đây bà từng làm y tá trong viện quân y. Vừa làm bà vừa kể cho Dương Nguyệt nghe, như giải đáp cho những thắc mắc mà cô bé chưa kịp hỏi. Kể xong dăm ba câu bà lại tự nhủ không biết tại sao lại đi nói cho cô bé này biết để làm gì. Dù sao nó vẫn là một đứa trẻ mới bảy, tám tuổi, làm sao đã hiểu chuyện đời?


Bà ngừng lại, không kể tiếp nữa. Dương Nguyệt cũng ngoan ngoãn không hỏi gì thêm.


Bà tắt điện, chỉ để lại một ánh đèn lờ mờ nơi đầu tủ. Bà cho Dương Nguyệt ngủ trên giường của bà. Bà cũng chả hiểu sao mình lại làm thế, bà vốn dĩ ít giao thiệp với ai, càng huống chi cho ngủ cùng giường. Nhưng không hiểu sao nhìn cô bé nhỏ xíu rúc vào trong lòng, bà cảm thấy trái tim lạnh lẽo của mình cũng dần ấm lại. 


Đã từ lâu, từ rất lâu rồi, bà cũng mong ước có một đứa con, nhưng đứa con chưa thành hình của bà đã bỏ bà ra đi mãi mãi mà còn chưa kịp nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Bà không còn hận người đàn ông kia, bà cũng không cần người đàn ông kia phải thương hại. Giá mà đứa bé có thể sống, chỉ cần mình đứa bé thôi, đứa con của riêng bà...


Có lẽ ông trời phái Dương Nguyệt đến, cô bé là thiên thần nhỏ, sưởi ấm lòng bà trong những năm tháng cô đơn.


"À ơi... à ơi..."


Đã lâu lắm rồi bà không còn hát, nay tiếng hát lại muốn cất lên, cũng không còn trong trẻo như xưa nữa.


Dương Nguyệt chưa từng nghe mẹ hát ru, cũng chưa từng được vỗ về như thế. Cô bé dần chìm vào trong giấc ngủ, đêm đó cô bé có một giấc mơ. Trong giấc mơ cô bé khẽ hỏi:


"Bà ơi, bà có phải là bà tiên không..."